Thursday, August 20, 2009

"Con bài chính trị"?

Báo Nhân Dân có đoạn này:

" Lê Công Ðịnh là đối tượng trực tiếp được các cơ quan tình báo, ngoại giao nước ngoài sử dụng làm "con bài chính trị", "nuôi dưỡng" thành "lãnh tụ" sau khi ở Việt Nam có sự thay đổi thể chế chính trị."

Trong mục "nhận tội" trên truyền hình hai hôm trước, Lê Công Định cũng được khai thác để nhận tội về những mối quan hệ với các quan chức ngoại giao Mỹ từ Thứ trưởng Ngoại giao cho tới Đại sứ, Tổng lãnh sự...Theo ông Định, những người này bày tỏ sự ủng hộ quan điểm tư pháp độc lập, nâng cao vai trò của luật sư...- là những quan điểm mà ông cũng theo đuổi. Không thấy ông Định thừa nhận là các quan chức ngoại giao Mỹ có mục đích "nuôi dưỡng" ông thành lãnh tụ sau này, cũng như không có sự thừa nhận về sự tiếp xúc với cơ quan tình báo nước ngoài. Vậy kết luận chính thức trên báo Đảng là từ đâu?

Thật khó hiểu được động thái của chính quyền Việt Nam. Một mặt nghênh đón thịnh soạn TNS. Jim Webb (cựu chiến binh Việt Nam, có vợ người gốc Việt), cho phép hai tờ Tuổi Trẻ và Thanh Niên được in một bài chống "lưỡi bò" của Trung Quốc. Mặt khác cho TV phát ngay bản nhận tội của Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung trong thời gian ông Webb vẫn đang ở Việt Nam trong đó ông Định thừa nhận việc tiếp xúc với các quan chức ngoại giao Mỹ như một phần tội trạng của mình; đồng thời báo Nhân Dân tố cáo việc các cơ quan tình báo, ngoại giao nước ngoài sử dụng Lê Công Định làm con bài chính trị? Không rõ đây là động thái nhất quán, có chủ trương hay do các phe khác nhau tiến hành?

Nhưng cũng lạ khi vừa muốn dùng Mỹ để kiềm chế tham vọng của Tàu ở biển Đông, lại vừa (ngấm ngầm) tố cáo tình báo Mỹ, ngoại giao Mỹ giật dây cho lực lượng chống phá Nhà nước; hơn nữa lại làm như thế ngay khi ông TNS phụ trách về khu vực Đông Nam Á của Quốc hội Mỹ đang ở VN thì không thể coi là một sự tế nhị về mặt ngoại giao được.

Thursday, August 13, 2009

Có nên bí mật các nghiên cứu phản biện xã hội?

Bài suýt đăng báo.

Có nên bí mật các nghiên cứu phản biện xã hội?


Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/7/2009 cho phép các tổ chức khoa học công nghệ do cá nhân thành lập được hoạt động trong một số lĩnh vực phần nào đã tạo ra một hành lang pháp lý rõ ràng cho các hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ của các tổ chức do cá nhân thành lập.

Nhưng mặt khác, nội dung của quyết định đặt ra một số vấn đề chưa thực sự thuyết phục. Theo Quyết định này, cá nhân thành lập tổ chức khoa học và công nghệ “nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ”. Giải thích rõ hơn về quy định này, ông Nguyễn Quân, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết các cá nhân vẫn được phép tự công bố ý kiến phản biện của mình nhưng không được phép sử dụng danh nghĩa của tổ chức KHCN do cá nhân thành lập, cũng không được nêu ra tên của tổ chức KHCN mà cá nhân đó trực thuộc. Lấy ví dụ cụ thể, giả sử Viện Nghiên cứu Phát triển IDS (Viện nghiên cứu chính sách đầu tiên do tư nhân thành lập ở Việt Nam năm 2007) có những ý kiến phản biện về chính sách kích cầu thì Viện này cũng không được phép công bố kết quả nghiên cứu của mình cho công chúng. Tiến sĩ A ở Viện này có thể viết bài trên báo đưa ra ý kiến phản biện nhưng ông không được ghi đó là ý kiến của Viện mà ông làm việc, cũng không được gắn tên mình với Viện khi đăng bài, và có lẽ cũng không được sử dụng kết quả nghiên cứu của Viện để minh họa cho các ý kiến phản biện của mình.

Điều này bất hợp lý. Nó đi ngược lại với tinh thần nghiên cứu trung thực, khách quan trong khoa học. Các kết quả nghiên cứu khoa học phải được công bố rộng rãi, nhận được các ý kiến đóng góp, phê bình từ nhiều bên liên quan thì mới có thể tạo ra một môi trường khoa học năng động và thực sự có ích. Trên thực tế, rất nhiều nghiên cứu khoa học, nhất là trong các ngành kinh tế và khoa học xã hội, sẽ ít nhiều phải đề cập tới lĩnh vực chính sách, và không thể mong đợi là tất cả các chính sách này đều hợp lý và hoàn thiện, mười phân vẹn mười cả. Lấy ví dụ, một nghiên cứu của một tổ chức tư nhân về chính sách kinh tế nêu ra tình trạng tiêu cực trong việc một số cán bộ xã, thôn ăn chặn tiền hỗ trợ người nghèo cũng có nguy cơ “phạm luật” nếu được công khai. Hay một nghiên cứu về giao thông ở thành phố Hồ Chí Minh trong đó có phê bình những bất cập về chính sách dẫn tới tình trạng lô-cốt dai dẳng cũng vậy.

Quyết định trên, do đó đã vô hiệu hóa vai trò của các tổ chức KHCN tư nhân trong việc góp ý kiến công khai với các chính sách của Nhà nước. Nó cũng cản trở khả năng bàn bạc, đánh giá, phê bình chính những ý kiến trên của các nhà khoa học trong ngành tại các hội thảo công khai hay trên các phương tiện truyền thông. Hơn nữa, lấy gì đảm bảo rằng các ý kiến phản biện của các tổ chức nghiên cứu tư nhân sau khi gửi cho các cơ quan Nhà nước sẽ không bị xếp xó trong chồng chồng, lớp lớp các thứ công văn, giấy tờ, làm uổng công và nản lòng những nhà khoa học tâm huyết? Nguy hiểm hơn, nó có thể tạo ra tín hiệu sai, khuyến khích tình trạng “khen lấy được” trong các kết quả nghiên cứu của các tổ chức KHCN của tư nhân cũng như Nhà nước.

Quyết định nói trên còn giới hạn khả năng của các tổ chức nghiên cứu tư nhân do đưa ra giới hạn lĩnh vực hạn hẹp cho hoạt động của các tổ chức này. Trong khi đó, một số nghiên cứu đòi hỏi tính chất liên ngành. Lấy ví dụ, nghiên cứu về phát triển một vùng sẽ đòi hỏi đánh giá nhiều mặt kinh tế, xã hội, giáo dục, địa lý…Nhưng danh mục các lĩnh vực khoa học công nghệ mà cá nhân được phép hoạt động lại chỉ cho phép một số lĩnh vực hạn hẹp, riêng rẽ. Trong nhóm lĩnh vực “Kinh tế và kinh doanh” danh mục này cũng chỉ cho phép hai lĩnh vực là “Quan hệ sản xuất kinh doanh” và “Kinh doanh và quản trị kinh doanh”. Điều này có nghĩa là các tổ chức nghiên cứu tư nhân về kinh tế vĩ mô, kinh tế ngành hay kinh tế vùng sẽ không được phép hoạt động?

Trong khi đấy, Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 tỏ ra khá cởi mở. Luật này quy định cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ có quyền “Công bố kết quả hoạt động khoa học và công nghệ theo quy định của Luật Báo chí, Luật Xuất bản và các quy định khác của pháp luật” (Điều 17). Luật cũng khuyến khích vai trò phản biện, giám định xã hội của các cá nhân: “Các hội khoa học và công nghệ có trách nhiệm tổ chức, động viên các thành viên tham gia tư vấn, phản biện, giám định xã hội và tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ.” (Điều 7). Thiết nghĩ, tiếp tục phát huy tinh thần cởi mở của Luật này thay vì kìm hãm sự tham gia tích cực của các nhà khoa học vào sự nghiệp khoa học công nghệ mới thực sự cần thiết cho sự phát triển của đất nước.

Tuesday, August 4, 2009

nới dây hay thắt dây?

"Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do nghiên cứu của mọi tổ chức và cá nhân, quyền dân chủ của công dân, sẵn sàng lắng nghe ý kiến nhiều chiều, tiếp thu ý kiến đóng góp cho việc xây dựng chính sách, kể cả việc khuyến khích toàn dân tham gia ý kiến xây dựng các văn kiện của Đảng, các dự luật, quy hoạch.

Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội phức tạp hiện nay, nhất là trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế đầy khó khăn thử thách, chúng ta đang cần có sự đồng thuận cao của xã hội đối với các quyết sách của Đảng và Nhà nước [sic], cần có sự ổn định để tiếp tục phát triển, thì việc công bố các kết quả nghiên cứu phản biện liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách điều hành kinh tế, xã hội phải hết sức thận trọng.

Vì thế, Điều 2 của Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg cũng quy định: cá nhân “nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền” để được nghiên cứu, thẩm định và tiếp thu, tuy nhiên “không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ.

- Liệu quy định “không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ” có thể hiểu là cá nhân vẫn được phép công bố công khai ý kiến phản biện liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước?

- TS. Nguyễn Quân: Nhà nước yêu cầu cá nhân khi công bố công khai ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước thì không được nhân danh tổ chức KHCN hoặc không được gắn tên mình với tên của tổ chức KHCN, để tránh gây nhầm lẫn về chủ thể của ý kiến đó, hoặc làm cho công luận hiểu sai về pháp nhân hoạt động của một tổ chức KHCN, tuy được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoạt động nhưng thực chất là của tư nhân, do một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân thành lập và tự điều hành. (Ví dụ, nếu Tiến sĩ X làm việc tại Viện Y là tổ chức KHCN do cá nhân thành lập, thì khi công bố ý kiến phản biện không được nói đó là ý kiến của Viện Y hoặc ý kiến của Tiến sĩ X cán bộ của Viện Y, mà chỉ được nói là ý kiến của Tiến sĩ X)."


Thursday, July 30, 2009

The Economist on the state of economics

Loạt bài trên Economist (từ vài tuần trước) phê bình kinh tế học, chủ yếu là kinh tế vĩ mô và kinh tế tài chính. Tuy hơi đơn giản hóa (như phân loại thành các nhà kinh tế "nước ngọt" và các nhà kinh tế "nước mặn") nhưng nhìn chung rất bổ ích và đáng đọc với những ai quan tâm tới kinh tế học hiện đại.

What went wrong with economics

The other-worldly philosophers

Efficiency and beyond

Wednesday, July 29, 2009

"Remembrance of things past"

Sonnet 30
William Shakespeare

When to the sessions of sweet silent thought
I summon up remembrance of things past,
I sigh the lack of many a thing I sought,
And with old woes new wail my dear time's waste:

Then can I drown an eye, unused to flow,
For precious friends hid in death's dateless night,
And weep afresh love's long since cancell'd woe,
And moan the expense of many a vanish'd sight:

Then can I grieve at grievances foregone,
And heavily from woe to woe tell o'er
The sad account of fore-bemoanèd moan,
Which I new pay as if not paid before.

But if the while I think on thee, dear friend,
All losses are restored and sorrows end.


Sonnet 30
William Shakespeare

Trong những lúc lặng im nghĩ ngợi
Tôi nhớ lại những ngày tháng xa xôi
Tôi buồn với những gì từng mong mỏi
Và tiếc cho những hoài phí trong đời.

Tôi rơi lệ, dẫu lệ chẳng quen rơi
Cho những bạn thân khuất núi lâu rồi
Tôi khóc cho tình yêu đã chết
Lòng xót thương những cảnh vật xa xôi.

Tôi đau đớn những niềm đau dĩ vãng
Thổn thức lòng những nỗi khổ từng qua
Tôi buồn thương những nỗi buồn năm tháng
Trả nợ nần cho những thứ đã xa

Nhưng nếu khi đấy nghĩ tới em thương mến
Mất mát rời tôi và nỗi đau cũng hết

Friday, July 24, 2009

For a Saturday morning




Just The Way You Are

Music by Billy Joel
Performed by Diana Krall

Don't go changing, try and please me
You never let me down before
Don't imagine you're too familiar
And I don't see you anymore

I would not leave you in times of trouble
We never could have come this far
I took the good times, I'll take the bad times
I'll take you just the way you are

Don't go trying some new fashion
Don't change the color of your hair
You always have my unspoken passion
Although I might not seem to care

I don't want clever conversation
I never want to work that hard
I just want someone that I can talk to
I want you just the way you are.

I need to know that you will always be
The same old someone that I knew
What will it take till you believe in me
The way that I believe in you.

I said I love you and that's forever
And this I promise from the heart
I could not love you any better
I love you just the way you are

I don't want clever conversation
I never want to work that hard
I just want someone that I can talk to
I want you just the way you are.

Thursday, July 23, 2009

Vị người ngồi trên?


Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Hoài Thanh, trên nhiều báo chí trong nước đã có các bài của nhiều người nhằm "minh oan" cho Hoài Thanh. Đáng chú ý là một bài viết của ông con trai cả Hoài Thanh là nhà phê bình Từ Sơn (viết từ năm 2004, nhưng mới in lại trong cuốn sách "Tìm hiểu Hoài Thanh" xuất bản tháng 5/2009), trong đó ông khẳng định Xuân Sách viết không đúng sự thật trong việc Hoài Thanh xin Xuân Sách sửa mấy chữ "vịnh" về ông (Vị nghệ thuật nửa cuộc đời/ Nửa đời sau lại vị người ngồi trên/ "Thi nhân" còn một chút duyên/ Chẳng cầm cho vững lại lèn cho đau).

Việc Từ Sơn bảo vệ cha, rửa "tiếng oan" cho cha tất nhiên cũng dễ hiểu . Có điều đoạn này của Từ Sơn viết hơi chướng:

"không biết ông Xuân Sách có nhận thức được rằng mức độ phê phán trong câu “nửa đời sau lại vị người ngồi trên” là nhẹ hơn “nửa đời sau lại phải vị người ngồi trên” hay không? Rõ ràng là câu trước mức độ đả kích chỉ nhằm vào một người, còn câu sau (thay bằng chữ phải) thì mức độ đả kích đã mở rộng giới hạn: đả kích vào một cơ chế rất tầm bậy là bắt người ngồi dưới phải nịnh bợ người ngồi trên vì người ngồi trên thích như thế. Ông Xuân Sách định ám chỉ cơ chế nào đây? Hoài Thanh là một nhà văn chân chính có đầy đủ phẩm chất yêu nước, yêu dân tộc, yêu Đảng, yêu và thực tâm gắn bó với sự nghiệp của Đảng, của dân tộc thể hiện trong lối sống cũng như trong toàn bộ văn nghiệp của ông. Công lao và sự nghiệp của ông đã được Đảng, Nhà nước và rất đông các thế hệ công chúng ghi nhận. Các phẩm chất ấy Hoài Thanh ngời sáng giữa thanh thiên bạch nhật khi ông còn sống cũng như khi ông đã mãi mãi đi xa."

Dường như Từ Sơn đang tìm cách "mở rộng án" khi quy kết là Xuân Sách có ý "phản động" đả kích cơ chế, nói xấu cơ chế, nói xấu lãnh đạo? Từ Sơn muốn khẳng định là Hoài Thanh "yêu Đảng" thực lòng, do đó nếu có "vị người ngồi trên" cũng là do thực tâm ông muốn thế chứ không phải vì chữ "phải" kiểu Ngô Thì Nhậm (Gặp thời thế thế thời phải thế)? Giả sử Hoài Thanh có nịnh bợ cấp trên thì giữa việc ông nịnh bợ do ông "yêu Đảng" hay do "phải" nịnh bợ, hãy cứ để độc giả quyết định xem cái nào "nặng" hơn cái nào. Có điều tôi vẫn thắc mắc về tính logic trong mối liên hệ giữa "yêu Đảng" và "vị người ngồi trên"?

Đọc thêm một số bài "minh oan" cho Hoài Thanh là Hoài Thanh "vị nhân sinh" chứ không "vị nghệ thuật" của Từ SơnPhạm Xuân Nguyên lại càng buồn cười. Tới năm 2009 rồi mà các nhà phê bình văn học danh tiếng vẫn còn loay hoay "minh oan" rằng thật ra thì, Hoài Thanh "vị nhân sinh" chứ đâu có "vị nghệ thuật". Cứ như thể cho tới tận bây giờ, "nghệ thuật vị nghệ thuật" vẫn là một cái tội không thể chấp nhận được của các nghệ sĩ.

Nhằm "minh oan" cho nửa đời sau của Hoài Thanh, Phạm Xuân Nguyên viết: "Nỗi ức này còn để lụy cho ông nỗi oan cuối đời. Nỗi oan trong câu thơ vẽ chân dung ông: “Vị nghệ thuật nửa cuộc đời/ Nửa đời sau lại vị người ngồi trên” của Xuân Sách. Thực hư chuyện này chỉ cần mở ra đọc lại các bài ông bình thơ của các nhà thơ từng ở những vị trí lãnh đạo thời ông sống sẽ có câu trả lời thỏa đáng. “Khi xem thơ tôi chỉ biết có thơ” đó là điều “thiên lương” mà tôi chắc ông đã cố giữ gìn, nâng niu."

Cũng đọc các bài phê bình của Hoài Thanh trong giai đoạn sau 54 nhưng trong cuốn “Văn học Việt Nam dưới chế độ Cộng sản”, nhà phê bình hải ngoại Nguyễn Hưng Quốc lại có cảm nhận khác với Phạm Xuân Nguyên:

“Trong số 19 bài viết về văn học Việt Nam hiện đại được chọn in trong Tuyển tập Hoài Thanh (1982), Hoài Thanh đã tập trung viết về Hồ Chí Minh đến sáu bài, về Tố Hữu cũng sáu bài. Trong số bảy bài còn lại, có một bài viết về Sóng Hồng, một bài viết về Xuân Thủy. Tổng cộng, như vậy, có 14 bài trên tổng số 19 bài là dành cho các “lãnh tụ”.

Và mặc dù Hoài Thanh khẳng định "khi xem thơ tôi chỉ biết có thơ" nhưng Nguyễn Hưng Quốc lại cho rằng phê bình văn học của Hoài Thanh nửa đời sau là điển hình cho “phê bình văn học qua con người”. Nguyễn Hưng Quốc trích một đoạn phê bình của Hoài Thanh về thơ Hồ Chí Minh để minh họa:

“Những câu thơ chúc Tết của Bác nhiều khi chỉ là lời nói thường:

Chúc hòa bình thống nhất thành công

Chúc chủ nghĩa xã hội thắng lợi
(Tết 1961)

Nhưng rõ ràng không thể xem những lời ấy như bất kỳ lời nói thường nào. Ở đây không chỉ có vấn đề lời nói mà còn vấn đề người nói. Đằng sau lời nói có một con người vô song, một cuộc đời vô song, có cái sáng suốt, cái kiên gan của một chính đảng Mác-Lênin đã được tôi rèn trong chiến đấu, có ý chí sức mạnh của một dân tộc anh hùng, có cả những ý tưởng cao đẹp nhất của hàng trăm triệu người trên thế giới. Do đó mà từng chữ, từng câu dầu bình thường thôi vẫn có sức nặng khác thường trong lời thơ Bác.”

Quả thật, nếu đọc đoạn này thì khó mà nói là khi xem thơ, Hoài Thanh chỉ biết có thơ. Ngay trong đoạn bình, ông đã khẳng định: "Ở đây không chỉ có vấn đề lời nói mà còn vấn đề người nói".

Và trong hai câu thơ ngắn của cụ Hồ, ông không nhìn thấy thơ mà nhìn thấy Người (một con người vô song, một cuộc đời vô song), thấy Đảng (chính đảng Mác-Lênin đã được tôi rèn trong chiến đấu), thấy dân tộc (một dân tộc anh hùng), thấy lý tưởng (những ý tưởng cao đẹp nhất) và thấy nhân loại (hàng trăm triệu người trên thế giới). Cũng chính những cái ngoài thơ đó đã làm cho "từng câu dầu bình thường thôi vẫn có sức nặng khác thường trong lời thơ Bác" "không thể xem những lời ấy như bất kỳ lời nói thường nào."

Trên CAND cũng có một bài mới của Phạm Khải bênh vực cho Hoài Thanh khi bình thơ lãnh đạo. Phạm Khải lấy một số ví dụ là Hoài Thanh có khen, có chê với thơ Sóng Hồng, Xuân Thủy, Nguyễn Đình Thi (hehe, ông này có thực sự là "ngồi trên"?).

Chỉ có điều
một số chỗ bênh vực cũng hơi buồn cười. Ví dụ về thơ Xuân Thủy:

" "Như khi Xuân Thủy viết: "Sông núi ôi xương máu/ Nhân dân ôi ngựa trâu" và "Ôi Lênin! Bộ óc thiên tài/ Im lặng tôi xin cáo biệt Người", Hoài Thanh đã không ngần ngại đưa ra nhận xét: "Những câu ấy, theo tôi, chưa nói hết được những điều nhà thơ muốn nói, chưa nói được cái đau xót, cái tủi cực ngày xưa, cũng chưa nói được tấm lòng kính phục không bờ bến đối với Lênin vĩ đại".

Hóa ra thơ Xuân Thủy còn có chỗ chưa hay là vì "chưa nói được tấm lòng kính phục không bờ bến đối với Lênin vĩ đại". Nói cách khác, là vì tính Đảng vẫn còn hơi yếu, chưa đủ độ "hồng" cần có.

Phạm Khải cũng phải công nhận là Hoài Thanh hầu như không chê gì thơ Tố Hữu. Thêm nữa, Phạm Khải cũng chả dám đề động tới việc Hoài Thanh bình thơ Hồ Chí Minh như thế nào.

Có đoạn này- lời Hoài Thanh nói với Từ Sơn- làm tôi hơi ngạc nhiên- "Điều mà cha có thể hoàn toàn yên tâm và tự hào trước lúc đi xa là cha đã sống và viết hoàn toàn trung thực". Tôi không tin có văn nghệ sĩ nào sống ở miền Bắc giai đoạn sau 1954 lại có thể "sống và viết hoàn toàn trung thực", trừ khi là họ bỏ bút và đi cày. Đến ngạo nghễ như Nguyễn Tuân mà còn than rằng "tao còn sống tới giờ là vì biết hèn". Trung thực như Phùng Quán thì cái giá phải trả là kiếm sống bằng cách câu trộm cá ở Hồ Tây. Sống cái thời đó, các văn nghệ sĩ đều phải chấp nhận giả dối trong sáng tác, phê bình; bằng không chỉ còn nước bẻ bút.

Người nào còn dám khẳng định "sống và viết hoàn toàn trung thực" thời đó thì hoặc là dối người, hoặc là dối mình.