Tuesday, July 21, 2009

Geneva

Hy sinh lợi ích nước nhỏ


Bài của Đoan Trang trên Tuanvietnam.net về hội nghị Geneva. Nội dung bài cho rằng hội nghị Geneva không phải là một chiến thắng của nền ngoại giao non trẻ Việt Nam (như nhiều sách sử chính thống Việt Nam vẫn khẳng định) mà là cuộc chơi của các nước lớn và trong cuộc chơi đó, quyền lợi của nước nhỏ (là Việt Nam) hoàn toàn bị hy sinh.

Kết quả hội nghị thì ai cũng biết: nó là sự chia đôi đất nước làm hai nửa, gây ra cuộc chiến Đông Dương lần hai với hơn 4 triệu người chết, hơn 1 triệu người phải bỏ nước sau chiến tranh và vô số những thiệt hại về vật chất và tinh thần khác. Điều đáng nói là kết quả này đều đi ngược lại với nguyện vọng của hai bên Việt Nam (Việt Minh và Việt Nam Quốc gia) lúc đó, nhưng lại phù hợp với điều mà Trung Quốc và Liên Xô (nhất là Trung Quốc) mong muốn.

Trích một đoạn:

"Từ góc độ của người Mỹ, nhà báo - sử gia Stanley Karnow cho rằng mục tiêu chính của Trung Quốc là gạt bỏ mọi cớ để Mỹ can thiệp vào Đông Dương và một lần nữa đe dọa Trung Quốc. Vì thế, Chu Ân Lai phải tìm ra một giải pháp giúp Pháp ít nhất là duy trì được một phần chỗ đứng ở Đông Dương, ngăn cản khả năng Mỹ can thiệp ồ ạt vào khu vực.

Để làm như thế, không thể không hy sinh mục tiêu giành độc lập hoàn toàn của Việt Nam DCCH. “Nhưng Chu đã đặt các ưu tiên của Trung Quốc lên trước” – Stanley Karnow nhận định. “Chính sách ngoại giao của Trung Quốc, qua hàng thế kỷ, luôn là chia nhỏ Đông Nam Á để có thể gây ảnh hưởng lên từng nước… Một nước Việt Nam chia cắt sẽ tốt cho Trung Quốc hơn là một quốc gia láng giềng thống nhất”.

Nhìn lại lịch sử, nhiều người có thể có thái độ trách móc khi nghĩ về một nền độc lập, thống nhất bị đổ vỡ; họ cho rằng khả năng thống nhất được hai miền Việt Nam là khả thi nếu không có sự can thiệp của những nước lớn.

Bản thân Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng – người đã chứng kiến việc Chu Ân Lai mời đại diện chính quyền Sài Gòn tới dự tiệc và gợi ý mở cơ quan ngoại giao tại Bắc Kinh – cũng đã cay đắng nói với một trợ lý về sự “hai mặt” của Chu Ân Lai."



Change We Need

Không phải về anh Thức hay anh Obama. Cái này thuổng từ Facebook của bạn Mưa. Người Việt bị 80 năm đô hộ Pháp nên chắc về khoản này cũng gần gũi với người Pháp.

Bao giờ mới tới weekend?





Cái này từ blog em Moonie M. Chân dung "Change We Need" nếu bố chàng đưa chàng trở lại Kenya sau khi ông học xong ở Mỹ.


Saturday, July 18, 2009

"Trân trọng" và "thân thiết"


Ðoàn đại biểu cấp cao Ủy ban Kiểm tra T.Ư Ðảng ta thăm và làm việc tại Trung Quốc


- "Ðồng chí Hạ Quốc Cường nhờ đồng chí Nguyễn Văn Chi chuyển lời thăm hỏi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Ðào và cá nhân đồng chí đến Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và các đồng chí lãnh đạo khác của Ðảng và Nhà nước Việt Nam."

- "Ðồng chí Nguyễn Văn Chi trân trọng chuyển lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc sức khỏe của Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và các đồng chí lãnh đạo Ðảng và Nhà nước Việt Nam đến Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Ðào và các đồng chí lãnh đạo khác của Ðảng và Nhà nước Trung Quốc"

Một bên "trân trọng" "thân thiết", một bên thì không?

Một bên thì là "lời thăm hỏi" chỉ của hai ông Hồ và Hạ. Còn bên kia là "lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc sức khỏe" của các ông Mạnh, Triết "và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam".

Tính chất không cân xứng đã rõ ràng, điều đáng nói là khi tường thuật trên báo Đảng, người ta vẫn tường thuật lại tính bất cân xứng đó, không hiểu vì vô tình hay cố ý.

Thêm một chi tiết nữa:

- Hạ đồng chí "nhiệt liệt hoan nghênh và đánh giá cao chuyến thăm, chúc mừng những thành tựu to lớn mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam giành được trong thời gian qua"

- Nguyễn đồng chí "bày tỏ vui mừng được sang thăm lại Trung Quốc, chứng kiến những thành tựu vĩ đại mà nhân dân Trung Quốc đạt được sau 30 năm cải cách, mở cửa. "

"To lớn" có tương đương với "vĩ đại" không nhỉ?



(Ảnh: Tân Hoa Xã)

Thursday, July 16, 2009

" Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu"

Vườn xưa
Tế Hanh (1921-2009)


Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao Hôm sao Mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn
Em theo chim em đi về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua

Một ngày xuân em trở lại nhà
Nghe mẹ nói anh có về anh hái ổi
Em nhìn lên vòm cây gió thổi
Lá như môi thầm thĩ gọi anh về

Lần sau anh trở lại một ngày hè

Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
Anh nhìn giếng giếng sâu trong vắt
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?



Anh đến với em là lẽ tất nhiên

Anh đến với em là lẽ tất nhiên
Như con sông trở về với biển
Như qua mùa đông mùa xuân lại đến
Như sau cơn mưa là lúc mặt trời lên.

Anh đến với em là lẽ tất nhiên
Như cái hoa đến ngày kết quả
Như con chim buổi chiều quay về tổ
Như máu trong người trở lại tim

Anh đến với em là lẽ tất nhiên
Như quyển truyện phải đến hồi kết thúc
Như cây kim địa bàn quay về hướng bắc
Cuộc đời anh hướng đến cuộc đời em

Anh đến với em là lẽ tất nhiên.

Wednesday, July 15, 2009

Lại "tàu lạ"!


Theo Vnexpress:
"Tàu lạ tấn công ngư dân Việt Nam, 7 người bị thương"

Theo tin trên trang mạng Trung Quốc, đăng trên blog Dongsongxanh và đăng lại trên bauxitevietnam. Bạn nào biết tiếng Trung có thể xác nhận lại là có đúng trang mạng Trung Quốc đăng như vậy không?
"Hải quân Trung Quốc đã ra tay trên biển Nam Hải! Giết chết 6 lính hải quân Việt Nam?"

Tình hình biển Đông xem ra đang hết sức căng thẳng! Những chiếc "tàu lạ" luôn sẵn sàng húc đổ các tàu Việt Nam, giết chết ngư dân Việt Nam. Cho tới nay, chưa có tin tức nào chính thức cho thấy có đổ máu chết người trên biển Đông, nhưng liệu còn có những vụ nào bị bưng bít hay không?

Monday, July 13, 2009

Xung quanh một bản tin trên báo CATPHCM


Luật sư Lê Trần Luật bị phát hiện quan hệ bất chính


Theo báo CATPHCM:

"Vào lúc 12 giờ ngày 10-7-2009, tại khách sạn Toàn Ý (596 Chu Văn An, phường 26, quận Bình Thạnh), CAP26 Q.Bình Thạnh đã phát hiện luật sư Lê Trần Luật và cô L.T.M.Q (SN 1984, quê Định Quán, Đồng Nai, làm nghề trang điểm cô dâu) đang quan hệ tình cảm với nhau. Q. khai nhận cách đây một năm đã gặp Lê Trần Luật tại quán cà phê Logo trên đường Phan Văn Trị, Gò Vấp. Luật nói đã có gia đình nhưng ly dị rồi, đang nuôi một con nhỏ. Hai bên phát sinh tình cảm sau một thời gian gặp gỡ qua lại. Q. đã chính thức trao đời con gái cho Lê Trần Luật cách đây hai tháng. Sau đó họ đã quan hệ nhiều lần tại nhiều khách sạn. Luật hứa sẽ đi đến kết hôn với cô Q. Tin tưởng vào lời hứa ấy, Q. đã một lòng một dạ với Luật. Nhưng khi vụ việc bị phát hiện, vợ Luật lại đến cơ quan chức năng làm thủ tục bảo lãnh cho anh ta về với gia đình."

Đọc bản tin này tôi thấy thật tởm. Tôi tự hỏi không biết công an có quyền gì mà bắt giữ luật sư Luật và chỉ khi vợ anh ta "làm thủ tục bảo lãnh cho anh ta về với gia đình" thì mới thả anh ta?. Cứ giả sử như những chi tiết trong bài báo là đúng thì việc làm của công an cũng đã vi phạm pháp luật.

Luật pháp Việt Nam cấm đa thê nhưng không có điều luật nào cấm hành vi ngoại tình cả. Vì thế việc luật sư Luật có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân với một cô gái 25 tuổi là chuyện riêng tư của anh ta cùng với những người liên quan và công an không có quyền theo dõi, càng không được phép "bắt quả tang", lập biên bản hay xét hỏi gì. Hành vi của công an trong vụ này đã vi phạm nghiêm trọng quyền riêng tư của cá nhân và quyền con người. Và hành vi giữ anh ta cho tới khi vợ bảo lãnh cũng có thể coi là việc tạm giữ người trái pháp luật. Thêm nữa, việc công khai danh tính và chuyện quan hệ ngoài vợ chồng của luật sư Luật trên báo CATPHCM cũng xâm phạm quyền riêng tư của cá nhân. Trong việc này thì cả công an phường 26 và báo CA TPHCM đều xâm phạm quyền công dân của ông Luật.


Cần chú ý rằng ở nước ngoài, báo chí có thể công bố chuyện một viên chức nào đó ngoại tình nhưng điều đó hoàn toàn dựa trên điều tra của tờ báo; lực lượng công an sống bằng tiền thuế của dân không được phép phung phí tiền đóng góp của nhân dân cho những việc làm vô bổ và trái nhiệm vụ của mình như thế. Hơn nữa, thường báo chí chỉ "bóc mẽ" những người của công chúng, những quan chức chính quyền hay của các đảng, chứ còn việc công khai danh tính của một cá nhân bình thường như thế cũng là vi phạm quyền riêng tư của người ta và tờ báo hoàn toàn có thể bị kiện vì việc đó. Ở đây có thể so sánh vụ việc Thanh Lam bị "đánh ghen" và việc luật sư Lê Trần Luật bị đưa tin quan hệ nam nữ bất chính. Sự khác biệt then chốt ở chỗ Thanh Lam là con người của công chúng do đó quyền riêng tư của cô có thể chịu một số hạn chế nhất định trong khi luật sư Lê Trần Luật chỉ là một công dân Việt Nam bình thường.

Còn ở Việt Nam? Công an có thể xộc vào phòng khách sạn của bạn khi bạn đang "quan hệ tình cảm" với bạn gái và tạm giữ bạn ở trụ sở công an. Và sau đó bêu riếu bạn trên báo chí cho dù bạn không phạm bắt cứ tội nào cả.

Cho nên tôi sẽ không ngạc nhiên nếu thậm chí, một ngày kia có những đoạn video theo phong cách Vàng Anh với đối tượng là những Lê Trần Luật hay Nguyễn Tiến Trung được tung lên mạng. Nếu họ không ngoan ngoãn "hợp tác". Bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra. Và người ta mất dần khả năng kinh ngạc, kinh tởm hay thậm chí là công phẫn trước những "đểu giả" bẩn thỉu ấy.

"Việt Nam: Chặt cầu để tiến lên?"

Bài này của TS. Vũ Minh Khương, Đại học Quốc gia Singapore đăng trên Tuần Việt Nam đã bị xóa (?) không lý do. Tôi xin đăng lại ở đây. Nếu có thời gian sẽ bình luận về bài này.

Việt Nam: Chặt cầu để tiến lên?

13/07/2009 06:21 (GMT + 7)
(TuanVietNam) - Nghĩ về đất nước thấy trách nhiệm, nhìn ra thế giới thấy ước mơ. Bài viết của TS. Vũ Minh Khương nhằm thể hiện dũng khí của người Việt ta trong giai đoạn đầy thử thách hiện nay.


Chuyện xưa kể rằng: Trong một trận đánh quyết liệt có tính sống còn, nhưng quân sĩ cứ lui dần, lui dần đến bờ sông. Để thể hiện ý chí quyết tâm, các vị tướng đã quyết định chặt đi cây cầu duy nhất để không còn đường rút. Khi giặc đến, tất cả đều hét vang, xông lên chiến đấu với ý chí vô song. Trận đánh thắng lợi và quyết định của các vị tướng khi đó đã trở thành một bài học lịch sử cho sự phát triển.

Dựa trên tích cổ này, trong một bài viết, TS. Vũ Minh Khương đã chọn tựa đề: Việt Nam: Chặt cầu để tiến lên? nhằm thể hiện dũng khí của thế hệ người Việt Nam chúng ta hôm nay. Tuần Việt Nam xin trân trọng giới thiệu bài viết đầy tâm huyết này để mọi người cùng suy ngẫm.

I. Định lượng nỗi đau dân tộc:

Mỗi con người khi thấy dân tộc mình ở vào vị thế thấp kém so với tiềm năng đều mang trong mình một nỗi đau. Nỗi đau này dù không ai giống ai hoàn toàn và không thể đo đếm chính xác. Thế nhưng, nó cũng có thể ước định được ở một chừng mực nhất định. Dưới đây là một phương cách đơn giản.

Mỗi người hãy tự trả lời bốn câu hỏi sau:

  1. Chúng ta có thấy xót xa hổ thẹn về vị thế hiện nay của dân tộc mình không?

  2. Chúng ta có thấy lo lắng cho tương lai của đất nước mình không?

  3. Nếu có cơ hội, thế hệ chúng ta có đủ sức đưa dân tộc mình đến một vị thế vẻ vang (hơn mức hiện nay rất nhiều) không?

  4. Cơ chế hiện thời có cho bạn làm được điều mà bạn hết lòng khao khát làm cho đất nước mình không?

Với mỗi câu hỏi, câu trả lời “có” được điểm 1 và câu trả lời “không” được điểm 0. Theo cách này, nỗi đau dân tộc của mỗi con người được đo bằng tổng số điểm của ba câu hỏi đầu trừ đi điểm của câu hỏi 4. Ví dụ, người mà câu trả lời là “có” cho cả ba câu hỏi đầu và “không” cho câu hỏi 4 sẽ có mức đau bằng 3 (1+1+1-0=3); đó là nỗi đau ở mức tột cùng. Trái lại, người mà câu trả lời là “không” cho cả ba câu hỏi đầu và “có” cho câu hỏi 4 sẽ có mức đau bằng -1 (0+0+0-1= -1); trong trường hợp này, người trả lời không có nỗi đau gì và thấy rất hài lòng với hiện tại.

Trong tập thể hàng triệu người, mức đau này có thể khác nhau, nhưng có lẽ, nhiều người cùng chia sẻ một cảm nhận là mức đau trung bình của hàng triệu người Việt chúng ta cũng không thấp hơn quá xa so với mức tột cùng nói trên. Người viết bài này mong rằng Ban chấp hành trung ương Đảng và Quốc hội khi có dịp hội họp có tổng hợp và báo cáo với quốc dân đồng bào nỗi đau này của mình. Nếu mọi người thấy không đau mà lại tự hào vì thấy dân mình được “xếp hạng hạnh phúc hàng đầu thế giới”[1] thì cũng là điều đáng suy nghĩ lắm.

II. Định lượng nguy cơ mất nước:

Một thước đo khác có tính cấp bách hơn là về nguy cơ mất nước. Người xưa gợi ý ba thước đo về nguy cơ mất nước của một quốc gia:

  1. Thứ nhất, người trên sai mà quan chức dưới đều nín lặng.

  2. Thứ hai, người được giao trọng trách không thấy việc mình đảm nhận là thiêng liêng và gian khó mà lại coi đó là đặc quyền đặc lợi để vinh thân, phì gia, và kết bè kéo cánh hưởng lộc.

  3. Thứ ba, người người đua chen, từ quan đến dân, lao vào cách làm ăn chụp giật và vụ lợi cá nhân trong sự xem thường đạo lý và sự tê liệt lòng tin vào công lý.

Theo người xưa, nếu điều 1 là đúng thì nước này đang ở vào thế suy vi; nếu điều 2 là đúng thì nước này sẽ khốn khó trong sự chia rẽ lục đục; nếu điều 3 là đúng thì nước này sắp loạn. Nếu cả ba điều trên đều đúng thì nước mất đến nơi rồi.

Ảnh minh họa: businessweek.com

III. Tình thế nước ta và đôi điều trăn trở

Ai đã sống ở nước Nhật chắc đều ấn tượng về sự sâu sắc và cẩn trọng trong hành xử của dân tộc này. Họ đã làm nên những điều kỳ vĩ trong cải cách Minh Trị trong nửa cuối thế kỷ 19 và sự vươn lên kỳ diệu từ đống tro tàn sau thế chiến thứ Hai.

Điều đặc biệt đáng nói là Nhật Bản đã và đang là quốc gia có sự đồng cảm và giúp đỡ Việt Nam nhiều nhất trong công cuộc phát triển vừa qua. Thế nhưng, dường như sự kỳ vọng cao của họ về một dân tộc Việt Nam có thể so sánh được với Hàn Quốc hay Nhật Bản có lẽ đang tắt dần. Quan sát động thái hợp tác của Nhật Bản với nước ta có thể giúp chúng ta thấy phần nào cảm nhận của bè bạn thế giới về tương lai của nước Việt chúng ta.

Năm 2006, tại Tokyo, Nhật Bản và Việt Nam có tuyên bố chung rất long trọng và ấn tượng khẳng định hai bên cam kết xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược[2]. Viện trợ của Nhật Bản cũng từ đó tăng lên.

Thế nhưng, Việt Nam, khác với những quốc gia và vùng lãnh thổ có công cuộc phát triển kỳ vĩ (như Hàn Quốc hay Đài Loan), viện trợ nhiều lên không làm chất lượng thể chế của chúng ta tốt lên, mà trái lại sa sút trong sự so sánh với thế giới (hình 1). Đáng buồn hơn nữa, tháng 12 năm 2008, Nhật Bản thông báo tạm ngừng viện trợ cho Việt Nam vì vấn đề tham nhũng và tin này công bố rộng rãi khắp thế giới.[3]

Hình 1. Việt Nam: Viện trợ Nhật Bản và chất lượng thể chế

Nguồn: số liệu về ODA Nhật bản (khoản cho vay) từ bộ ngoại giao Nhật bản; số liệu về hiệu lực chính phủ từ Ngân hàng Thế giới. (Click vào để xem hình lớn)

Ví dụ trên cho thấy sự sa sút của chúng ta không phải do ai chống phá, mà chính do sự yếu kém trong hệ thống trước công cuộc phát triển của dân tộc.

Trong thực tế hiện nay, chúng ta không thể đổ lỗi cho cá nhân cụ thể nào mà phải thấy đây là “lỗi hệ thống” như nhiều người đã từng nêu ra. Bản chất của lỗi hệ thống là sự khủng hoảng về hệ thức tư duy[4]. Nguyên nhân gốc rễ của sự khủng hoảng này là do những định đề và thiết kế tổ chức kiểu cũ đã trở thành lực cản cho quá trình nhận thức của tư duy và cải biến của xã hội sang khung thức vận hành mới.

Nếu hệ thống quản trị xã hội không chủ động tạo sự chuyển dịch có tính hồi sinh sang khung thức phát triển mới thì xã hội chắc chắn sẽ trải qua giai đoạn khủng hoảng trong sự suy tàn của hệ thống cai trị hiện thời. Trái lại, nếu hệ thống biết chủ động nắm bắt qui luật, mạnh dạn bước vào công cuộc hồi sinh thì nó có thể bước vào trạng thái khởi phát (xem Bảng 1 dưới đây).

Bảng 1. Đặc trưng Hệ thống trong Lựa chọn Chuyển đổi: Suy tàn hay Khởi phát

Tiêu chí Suy tàn Khởi phát

Tầm nhìn

Bị che mờ bởi hào quang quá khứ và sự lú lẫn của tư duy cũ được gia cường bởi lợi ích cá nhân và phe nhóm.

Hướng về khát vọng tương lai chia sẻ sâu sắc bởi mọi tầng lớp nhân dân. Đó là ước mơ đời đời thúc giục, người người khao khát.

Chiến lược

Mơ hồ; chủ yếu xoay xở để giữ ổn định bằng cách gia cường các chốt hãm tạo bởi những định đề có từ quá khứ.

Dựa trên sự trỗi dậy của nguyên khí dân tộc trong tầm nhìn thời đại và ý thức trách nhiệm với tương lai.

Phong cách lãnh đạo

Sự vụ, đối phó, né tránh sự thật.

Khơi dậy sự phấn khích của toàn dân bằng hoài bão lớn, phẩm chất hiến dâng, sự trân trọng từng con người, và khả năng qui tụ hiền tài.

Văn hóa tổ chức

Mọi người, dù là có chức vụ cao đều thấy không có quyền lực.

Trong đáy lòng, thực tế không còn những giá trị thiêng liêng để tôn thờ. Ngậm miệng ăn tiền.

Hệ thống không ghi nhận đóng góp hay qui trách nhiệm cho cá nhân về mỗi nỗ lực thực hiện.

Ai ai cũng thấy trách nhiệm và khả năng đóng góp của mình vào sự nghiệp chung.

Mọi người đều chia sẻ những giá trị thiêng liêng gắn với tiền đồ và danh dự dân tộc

Vai trò cá nhân được đặc biệt coi trọng. Mỗi mặt trận đều có vị tướng lĩnh xuất chúng.

Vận hành của hệ thống

Thụ động, thúc thủ, thậm chí tê liệt (trên bảo dưới không nghe)

Có định hướng mạnh mẽ vào các mục tiêu chiến lươc; sáng tạo, cộng hưởng, và hợp tác gắn bó.

Hệ thống thông tin

Mập mờ, sai lệch, thậm chí bị ém nhẹm, giấu giếm

Minh bạch, chính xác, có hệ thống với chất lượng và khả năng tiếp cận ngày một nâng cao với sự phản hồi và đóng góp chặt chẽ của công dân.

Sử dụng nguồn lực

Phung phí, dàn trải.

Luôn cảm thấy thiếu hụt tài chính và nguồn lực vật chất; trong khi coi thường giá trị con người.

Vô thức trong việc lãng phí tài nguyên và vay nợ nước ngoài.

Tiết kiệm, chiến lược, và tập trung trong sử dụng nguồn lực.

Trọng dụng người tài để nguồn lực luôn đến dồi dào, sinh sôi và phát huy mạnh mẽ.

Chỉ dùng đến tài nguyên và nợ nước ngoài cho những mục tiêu đặc biệt chiến lược và tính thấu đáo mọi hậu quả của nó.

IV. Làm gì để vượt lên

Không ít bè bạn đã có thời tin rằng, Việt Nam là một dân tộc có tinh thần quật khởi và là một ứng viên làm nên những kỳ tích phát triển ở nửa đầu thế kỷ 21. Trong thế kỷ 21 này, động lực cho sự phát triển thần kỳ chỉ có thể có được nếu ba điều kiện sau hội đủ:

1- Toàn dân tộc đồng tâm trong khát vọng vươn lên sánh vai các dân tộc vẻ vang của thời đại.

2- Hiểm họa an ninh quốc gia ngày càng gay gắt.

3- Hệ thống chính trị nhận thức được lòng dân là ánh sáng mặt trời và văn minh nhân loại là qui luật của trời đất. Trong nhận thức đó, lãnh đạo phải là người có thể ngẩng cao đầu đón ánh mặt trời của lòng dân và lái con thuyền dân tộc vượt qua biển cả trong sự thuận hòa của qui luật trời đất.

Kinh nghiệm của Indonesia với thắng lợi vang dội của Tổng thống Yudhoyono trong cuộc bầu cử toàn dân đầu tháng 7 vừa rồi là điều đáng suy nghĩ. Ông được đánh giá là đã làm xuất sắc cương vị tổng thống trong 7 năm qua (2002-2009) với nỗ lực ấn tượng trong củng cố nền móng phát triển của Indonesia và chương trình chống tham nhũng với lời nói và hành động nhất quán và mạnh mẽ.

Cũng nhờ vậy mà trong mấy năm qua, Indonesia đã vượt lên từ sự sa sút sau sụp đổ của chính quyền độc tài Suharto và trở thành quốc gia tăng trưởng nhanh nhất trong các nước Đông Nam Á trong những tháng đầu năm 2009. Cũng trong bối cảnh dân chủ sống động, ở Malaysia, Thủ tướng mới Najib nhận được sự đồng thuận cao của người dân (65% tín nhiệm) sau 100 ngày cầm quyền nhờ những cải cách đặc biệt ấn tượng.

Trong nỗ lực cải cách hệ thống ở Việt Nam, với xu thế tất yếu hướng tới một nền dân chủ do dân và vì dân, chúng ta trước hết cần đặc biệt chú ý áp dụng một số cải tiến kỹ thuật, tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa cực kỳ then chốt. Dưới đây là hai ví dụ nhỏ.

Ảnh minh họa: businessweek.com

1- Lưu trữ và minh bạch thông tin lịch sử

Trong bối cảnh không dễ dàng đổi thay một cơ chế hay một hệ tư duy, việc lưu trữ và minh bạch thông tin lịch sử có tác dụng quan trọng.

Bài học này có từ kinh nghiệm của Tổng thống Abraham Lincoln khi ông còn là một luật sư. Khi đó nước Mỹ có luật là người lớn không thể đòi khoản nợ mà người vị thành niên vay mình. Điều luật này lập tức bị nhiều nhiều thiếu niên lạm dụng: họ vay tiền rồi từ chối trả nợ. Nhiều chủ nợ cay đắng chấp nhận vì luật pháp không ủng hộ họ.

Trong tình thế này, luật sư Lincoln cũng không có cách nào khác để giúp thân chủ của mình đòi nợ ngoài việc đề nghị tòa án lưu giữ hồ sơ là cậu thiếu niên này đã quỵt nợ và ghi rõ cậu đó sẽ không bao giờ được coi là người lớn nếu không trả món nợ này. Lo sợ về đề xuất này được thực hiện, cậu thiếu niên này và gia đình đã vội vã xin trả món nợ và tình trạng quỵt nợ kiểu này từ đó không còn nữa.

Bài học này cho thấy, con người ta sẽ thường chỉ có hành vi lạm dụng khi trốn lủi được sự phán xét. Do đó, chúng ta đề nghị có đạo luật để Đảng, Quốc hội, Nhà nước, và Chính phủ phải lưu trữ thật tốt mọi luận bàn và quyết định quan trọng về chính sách phát triển và bổ nhiệm nhân sự để toàn xã hội được biết trong một thời hạn sớm nhất có thể. Khi đó, ai đề xuất hay quyết định những việc gì, dù tốt đẹp cho dân cho nước hay làm hại dân hại nước; dù đề bạt người hiền tài hay nâng đỡ kẻ tham nhũng sẽ đều được sự phán xét nghiêm minh của lịch sử.

2- Lựa chọn và đánh giá lãnh đạo dựa trên phân loại khoa học

Việc lựa chọn cán bộ lãnh đạo và chủ chốt có ý nghĩa sống còn với công cuộc phát triển. Công việc hệ trọng này nên dựa trên một sự phân loại khoa học, có hệ thống. Tối thiểu cần dựa trên hai tiêu chí: Phẩm chất hiến dâng và Tư duy cải cách. Trên mỗi tiêu chí, cho điểm từ 1 đến 5 (1=rất thấp so với mức trung bình; 2=thấp hơn mức trung bình; 3=mức trung bình; 4=cao hơn mức trung bình; 5=vượt xa mức trung bình).

Để lựa chọn người cho một cuộc bầu cử chính thức, một tổ chức (dù là Đảng, Quốc hội, hay Chính phủ) nên có phân loại khoa học theo hai tiêu chí trên. Ví dụ: (i) Ban Chấp Hành Trung ương đánh giá về các ủy viên Bộ Chính trị hiện tại hoặc các ủy viên dự kiến cho khóa tới; (ii) Quốc hội đánh giá các bộ trưởng và các vị giữ trọng trách cao hơn.

Hình 2: Phân loại và đánh giá cán bộ chủ chốt

Click vào để xem hình lớn.

Tổng hợp đánh giá của cả tập thể về một cán bộ chủ chốt sẽ cho phép phân loại cán bộ theo hình vẽ 2 nêu trên.

Theo đó, chỉ người có mức điểm trung bình cao (nghĩa là trên 3,0) trên cả hai tiêu chí: “Phẩm chất hiến dâng” và “Tư duy cải cách” (ô I) mới được lựa chọn vào bầu cử cho các cương vị cao như ủy viên Bộ chính trị hay bộ trưởng và các vị trí cao hơn. Đảng và Quốc hội, nếu muốn có lòng tin của dân cần công khai các chỉ số này cho cán bộ chủ chốt ở cả Trung ương và địa phương.

Theo đánh giá của nhiều người, có nhiều cán bộ chủ chốt của ta ở ô III (có năng lực nhưng cơ hội, tham nhũng) và ở ô IV (vụ lợi cá nhân, bảo thủ). Điều đặc biệt đáng nói là cách đánh giá này không chỉ xác đáng còn tạo động lực để mỗi cán bộ đều tự rèn luyện và tốt hơn lên. Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là, tất cả những ai được đứng trong hàng ngũ lãnh đạo, thậm chí chỉ là cán bộ trong bộ máy nhà nước, đều phải ở ô I với độ tin cậy cao của toàn dân về phẩm chất hiến dâng và tư duy cải cách.

V. Thay lời kết

Khó khăn trong quyết định của mỗi người chúng ta hôm nay không phải là làm cách gì để đất nước tiến lên mà là làm gì để chúng ta không lùi tiếp nữa, bởi đường lùi của chúng ta còn rộng rãi thênh thang lắm.

Ông cha chúng ta để lại cho chúng ta đất đai ở vị thế đẹp và nhiều tài nguyên quí giá. Thế giới lại thương cảm chúng ta đã trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt. Thế hệ chúng ta chỉ cần cho nhượng thuê đất trong các dự án đầu tư dễ dãi, bán tài nguyên, và vay nợ quốc tế cũng đủ sống xênh xang được 20-30 năm nữa. Ta nhượng đất của ông cha làm sân golf và dân ta sẽ không thể đói nhờ nghề nhặt bóng và đánh giày. Mỗi chúng ta, dù sao hãy cùng trả lời một câu hỏi day dứt: Dân tộc Việt Nam ta hôm nay có đủ lòng quả cảm “chặt cầu để tiến lên không?”

  • TS. Vũ Minh Khương (Đại học Quốc gia Singapore)


[1] Tổ chức New Economic Foundation vừa đưa ra xếp hạng chỉ số hạnh phúc năm 2009, trong đó Việt Nam xếp hạng 5. Điểm tốt của cách xếp hạng này là khuyến khích các nước tiêu dùng ít vật chất hơn. Điểm hạn chế là phương pháp dễ gây ngộ nhận cho các nước nghèo. Thứ nhất, họ dùng khảo sát mức độ hài lòng với cuộc sống thực hiện năm 2005 (nghĩa là 5 năm trước đây) và khảo sát này chủ yếu dựa vào một nhóm nhỏ người sống ở thành phố. Thứ hai, họ chia chỉ số hài lòng cho lượng vật chất tiêu dùng; nói một cách nôm na, chỉ số hài lòng của người Mỹ là 8 nhưng vì họ đi ô tô nên chỉ số hạnh phúc của họ thấp hơn Việt Nam với chỉ số hài lòng là 6,5 nhưng đi xe máy.

[2] “Japan-Vietnam Joint Statement: Toward a Strategic Partnership for Peace and Prosperity in Asia”; October 19, 2006; Ministry of Foreign Affair, Japan; URL: http://www.mofa.go.jp/region/asia-paci/vietnam/joint0610.html, xem ngày 11/07/2009.

[3] “Japan Suspends Aid to Vietnam, Citing Corruption”; URL: http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=20601080&sid=aTIhAZGLZ2Ko&refer=asia, xem ngày 11/07/2009

[4] Xem thêm Elgin, D. (1977), "Limits to the management of large complex systems", Assessment Of Future National and International Problem Areas, Stanford Research International, Palo Alto, CA.